Tìm hiểu về những đặc điểm sinh lý của trẻ non tháng

Trẻ sinh non có nhưng đặc điểm sinh lý không giống với trẻ đẻ đủ tháng. Do đó việc tìm hiểu những đặc điểm sinh lý của trẻ sinh non là điều rất cần thiết để phụ huynh dễ dàng hơn trong việc chăm sóc trẻ.

Đặc điểm sinh lý của trẻ sinh non

Đặc điểm sinh lý của trẻ sinh non

Chức năng chuyển hóa các chất

  • Trẻ đẻ non có tỉ lệ nước cao hơn trẻ đẻ đủ tháng, do đó trẻ dễ bị phù cứng bì vì ứ nước và lạnh, trẻ dễ ốm hơn đặc biệt vào mùa đông.
  • Bình thường được mẹ cung cấp trong suốt thai kỳ, đặc biệt tăng nhiều trong những tháng cuối của thai kì, chính vì vậy trẻ đẻ càng non thì càng thiếu sắt. Nếu như tỉ lệ dự trữ sắt ở trẻ đủ tháng là 262mg%, thì ở trẻ đẻ non là 106mg%. Ở những trẻ đẻ non cần chú ý bổ sung sắt sau thời gian 1 tháng tuổi và có sự theo dõi Hb và Fe huyết thanh trong 5-6 tháng liền
  • Chuyển hoá protid kém do thiếu các men cần thiết. Bình thường protid trong máu trẻ đủ tháng  từ 5 – 6g%) thì ở trẻ đẻ non tháng chỉ có 4-5g%. Nhu cầu protid  từ 1 – 2g/kg/ngày trong tuần đầu từ tuần thứ 2 trở đi là 2 – 3g/kg/ngày, nhưng với trẻ cân nặng < 1800 g sau tuần thứ 2 nhu cầu protid có thể lên tới 4g/kg/ngày vì trẻ thường tăng cân nhanh để đuổi kịp trẻ đủ tháng trong những tháng sau.
  • Chuyên mục tin tức Y tế đưa tin ở trẻ đẻ non tháng có tỉ lệ lipid ít hơn nhiều so với trẻ đủ tháng. Chính vì thế trẻ đẻ non có nguy cơ hạ thân nhiệt cao hơn trẻ đủ tháng. Ruột là nơi hấp thụ 20 – 50% lipid, với sơ sinh chỉ hấp thụ được lipid thực vật và lipid trong sữa mẹ, với trẻ đẻ non sự hấp thụ và chuyển hoá này đều hạn chế, do đó càng cần sữa mẹ.
  • Thiếu các vitamin: trẻ đẻ non thiếu hầu hết các vitamin do đó cần cho thêm ngay từ những ngày đầu sau đẻ đến hết thời kì sơ sinh hoặc lâu hơn nữa.

Rối loạn khả năng điều hòa thân nhiệt

Trẻ đẻ non có khả năng điều hòa nhiệt kém và rất dễ bị mất nhiệt. Nhiệt độ cơ thể của trẻ đẻ non phụ thuộc hoàn toàn vào nhiệt độ môi trường, hệ thần kinh chưa hoàn chỉnh, da mỏng và diện tích ra rộng chính vì thế dễ mất nhiệt hơn so với trẻ đủ tháng.Không những thế trẻ dễ bị sốt cao, mất nước nhiều nếu nhiệt độ môi trường cao và khô. Khi chăm sóc trẻ cần bảo đảm độ ẩm môi trường và nhiệt độ bên ngoài tối ưu để hạn chế sự tiêu hao năng lượng, nước và oxy của trẻ. Trẻ càng đẻ non, cân nặng càng ít thì độ ẩm môi trường cao hơn từ 90-95%

Chức năng tuyến nội tiết

  • Chức năng tuyến giáp: tuyến giáp hoạt động từ tháng thứ 3 của thai kỳ, chất thyroxin xuất hiện từ tháng thứ 6 – 8 thai kì. Khi trẻ trào đời, nhiệt độ bên ngoài thấp, tuyến giáp tăng tiết thyroxin để huy động chất béo của cơ thể tăng cung cấp năng lượng. Tuy nhiên khả năng này rất hạn chế ở trẻ đẻ non.
  • Tuyến phó giáp trạng hoạt động chưa hoàn chỉnh, đặc biệt nếu thường xuyên thiếu calci máu dễ gây suy. Việc nuôi con bằng sữa mẹ càng cần thiết vì tỉ lệ Ca/P thích hợp, dễ hấp thụ.
  • Chức năng tuyến tụy: Hoạt động ngay sau khi sinh chủ yếu là insulin, do đó trẻ đẻ non dễ bị hạ đường máu không chỉ do thiếu cung cấp tăng sử dụng khi thiếu oxy mà còn do tăng tiết insulin những trường hợp bệnh lí.
  • Chức năng tuyến thượng thận: Chuyên gia phân tích xét nghiệm đang công tác giảng dạy tại Cao đẳng Xét nghiệm TP.HCM – Trường Cao đẳng Y dược Pasteur cho biết tuyến thượng thận có kích thước tương đối to, hoạt động sớm hơn cả phần vỏ lẫn phần tuỷ, ở trẻ đẻ non rất dễ xuất huyết. Tuyến thượng thận hoạt động dưới sự kích thích của ACTH. Chất glucocorticoid của thượng thận làm tăng sự tổng hợp protid giúp trẻ đẻ non tăng cân nhanh.

Chăm sóc trẻ sinh non đúng cách

Chăm sóc trẻ sinh non đúng cách

Khả năng miễn dịch kém

Khả năng miễn dịch và bảo vệ của trẻ đẻ non rất kém do chưa phát triển hoặc phát triển không đầy đủ. Da của trẻ đẻ non rất mỏng và có độ toan thấp nên ít có tác dụng kháng khuẩn. Các tế bào bạch cầu, đại thực bào chưa trưởng thành nên sự hoạt động kém. Hàm lượng globulin miễn dịch thiếu cả về chất và khối lượng IgG do mẹ truyền qua rau thai nhưng vì đẻ non nên có ít, IgG, IgM… chưa có, khả năng tự tạo miễn dịch yếu. Chính vì thế trẻ đẻ non thường dễ mắc các bệnh lý nhiễm khuẩn, và khi mắc thường nặng hoặc rất nặng.

Nguồn: yduocbacninh.info